Xét nghiệm phát hiện và định type HPV

Hình 1 - HPV

TẦM SOÁT VÀ PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

HPV (Human Papillomavirus)

Virus gây u nhú trên tế bào biểu mô người. Virus có rất nhiều genotype và có một số được ghi nhận là nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung. Các genotype được xếp vào nhóm nguy cơ cao (high risk) này bao gồm 14 genotype, đó là: 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 6668. Genotype 1618 là hai genotype được nhiều nghiên cứu xác nhận là nguyên nhân thật sự gây ung thư cổ tử cung. Nhóm nguy cơ thấp (low risk) gồm nhiều genotype nhưng thường gặp nhất là genotype 6, 11, 26, 42, 43 và 44 với genotype 6 và 11 là tác nhân của bệnh sùi mào gà trên cơ quan sinh dục hay trên thanh quản, miệng.

Làm thế nào phát hiện HPV?

  • Phát hiện nhiễm HPV bằng kỹ thuật miễn dịch tìm kháng thể đặc hiệu HPV có trong huyết thanh người nhiễm là không có giá trị vì độ nhạy và độ đặc hiệu thấp. Trên tế bào hay các lát cắt sinh thiết cũng rất khó phát hiện được HPV bằng các kỹ thuật nhuộm mô giải phẩu bệnh vì hiếm khi nhìn thấy được các tế bào rỗng đặc trưng của tế bào nhiễm HPV. Nhuộm mô miễn dịch thì phức tạp, độ nhạy thấp và cũng không thể phân biệt chính xác genotype hay ít nhất là phân biệt nhóm nguy cơ cao hay nguy cơ thấp.
  • Kỹ thuật “ThinPrep PAP test” có ưu điểm là các tế bào cổ tử cung được trải đều trên lame nên người đọc dễ dàng nhìn thấy được tế bào bất thường. ThinPep đã cải thiện rất nhiều trong phát hiện sớm ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên ThinPrep có khi bỏ sót các bất thường nếu người đọc bỏ sót hình ảnh bất thường do khối lượng lame đọc quá nhiều. Chính vì vậy nếu có thêm một phương pháp xét nghiệm phát hiện HPV trong mẫu tế bào thì kết quả sàng lọc sớm ung thư cổ tử cung sẽ đạt gần mức tuyệt đối.
  • Để phát hiện được HPV thì phương pháp sinh học phân tử phát hiện đoạn gen đặc hiệu của HPV có trong mẫu thử chính là chuẩn vàng. Kỹ thuật nhạy cảm nhất chính là PCR dựa trên nguyên tắc sử dụng các đoạn mồi đặc hiệu để nhân bản trình tự DNA đặc hiệu có trong mẫu thử thành hàng triệu bản sao và phát hiện. Với phương pháp PCR cổ điển thì khó có thể định được geneotype của HPV. Phương pháp PCR cổ điển kết hợp với phương pháp lai có thể phát hiện được các genotype của HPV nhưng kỹ thuật này khá phức tạp vì phải thực hiệm thêm bước lai trên màng (line probe) hay trên giếng (PCR-ELISA). Ngoài ra kỹ thuật lai cũng có nguy cơ khó tránh khỏi là ngoại nhiễm, một thảm họa trong PCR chẩn đoán.

Multiplex real-time PCR dùng Taman probe, bước đột phá về công nghệ trong phát hiện và xác định genotype HPV: Để giải đáp bài toán khó trong phát hiện và định genotype HPV, Phòng Xét Nghiệm thuộc Công Ty Nam Khoa đã có bước đột phá về mặt kỹ thuật, đó là đã nghiên cứu thành công và triển khai Multiplex real-time PCR sử dụng các Taqman probe đặc hiệu 20 genotype HPV thường gặp bao gồm 14 genotype thuộc nhó “HIGH RISK” và 6 genotype thuộc nhóm “LOW RISK” liệt kê ở trên. Đột phá này cho phép phát hiện và định genotype HPV có trong các mẫu thử (sinh thiết, quệt cổ tử cung, dịch ThinPrep còn lại sau làm phết một các đơn giản và nhanh chóng với kết quả đến tay bác sĩ chỉ 4 đến 6 giờ sau khi nhận mẫu. Có hai loại xét nghiệm để bác sĩ lựa chọn:

  • Phát hiện và xác định nhóm HIGH RISK/LOW RISK: Với xét nghiệm này, kết quả mà bác sĩ sẽ nhận được là (1) mẫu thử có HPV hay không, nếu có thì thuộc vào nhóm HIGH RISK hay LOW RISK; (2) nếu là nhóm HIGH RISK thì có phải là genotype 16 hay 18 không; (3) nếu thuộc nhóm LOW RISK thì có phải là genotype 6 hay 11 không.
  • Phát hiện và xác định genotype của HPV: Với xét nghiệm này thì kết quả mà bác sĩ sẽ nhận được là (1) mẫu thử có HPV hay không, nếu có thì thuộc vào nhóm HIGH RISK hay LOW RISK; (2) nếu là nhóm HIGH RISK thì thuộc genotype nào trong các genotype 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 6668; (3) nếu thuộc nhóm LOW RISK thì có phải là genotype 6 hay 11 không.

Phòng Xét Nghiệm thuộc Công Ty Nam Khoa đã sử dụng mô hình “Streamline Real-time PCR” trong tất cả các xét nghiệm sử dụng kỹ thuật real-time PCR với phương pháp xét nghiệm đa số được thực hiện tự động, đặc biệt trong khâu phức tạp nhất là tách chiết DNA/RNA, nhờ vậy mà qui trình xét nghiệm nhanh chóng và đơn giản hơn, tránh các sơ sót do thao tác tay. Kết quả được chính xác vì luôn có các chứng nội tại để kiểm soát khả năng tách chiết và chất lượng mẫu, và chứng dương để kiểm soát độ nhạy của các bước từ tách chiết đến khuếch đại. Hình 1 tóm tắt sơ bộ qui trình real-time PCR phát hiện và định type HPV trên mô hình “Streamline Real-time PCR”

Hình 1 - HPV

Hình 1:   Mô hình Strealine Real-time PCR áp dụng trong multiplex realtime PCR phát hiện và xác định genotype HPV

Mẫu để làm xét nghiệm: Có thể là các loại sau đây (1) Quệt cổ tử cung: được lấy bằng chổi chuyên dùng hay tăm bông nylon (không dùng tăm bông cotton vì sẽ khó thôi tế bào biểu mô dính từ tăm bông vào dịch đệm khi thực hiện tách chiết DNA), loại nên dùng là tăm bông Rayon (do công ty Nam Khoa cung cấp); (2) Sinh thiết tươi: Tốt nhất là không ngâm trong đệm cố định có formol mà là mẫu tươi hay nếu có ngâm thì ngâm vào nước muối sinh lý; (3) Lọ dung dịch ThinPrep sau khi đã lấy mẫu làm phết trên lame. Các mẫu sau khi lấy xong phải được trong tủ lạnh 4-8oC hay trong tủ đông rồi gửi đến phòng thí nghiệm cũng giữ trong hộp lạnh. Nếu giữ lạnh 4-8oC thì thời gian có thể 48 giờ. Nếu giữ trong tủ đông thì có thể lưu đến nhiều tháng. (4) Một loại mẫu thử khác nữa cũng có thể tìm được HPV là mẫu mô đúc sáp (FFPE) của giải phẩu bệnh, tuy nhiên chất lượng mẫu còn tùy thuộc nhiều vào chất lượng đúc sáp của phòng giải phẩu bệnh. Thời gian để có kết quả là từ 4-6 giờ sau khi phòng thí nghiệm nhận được mẫu thử.